Tổng quan

Hẹ còn được gọi là tỏi phương Đông, hẹ châu Á hay hẹ Trung Quốc (Chinese chive) có tên khoa học là Allium tuberosum Rottl. ex Spreng. Hẹ được mô tả lần đầu bởi Johan Peter Rottler, tên loài được Curt Polycarp Joachim Sprengel công bố vào năm 1825 [1]. Hẹ là một loài thực vật có nguồn gốc từ tỉnh Sơn Tây của Trung Quốc, và được trồng ở những nơi khác nhau ở châu Á và trên toàn thế giới. Loài cây này không chỉ được sử dụng làm thực phẩm mà còn dùng để chữa bệnh [2, 3]. Theo Trung tâm dữ liệu Thực vật Việt Nam [4], Hẹ (Hình 1.1) có hệ thống phân loại thực vật như sau:

Giới: Thực vật: Plant

Ngành Thực vật Hạt kín: Magnoliophyta

Lớp Hành: Liliopsida

Bộ Măng tây: Asparagales

Họ Hành: Alliaceae

Chi Hành: Allium

Loài Hẹ: Allium tuberosum Rottl. ex Spreng

Hình 1. 1. Hình ảnh cây hẹ [5] Ảnh tư liệu

Hẹ là cây thân thảo nhỏ sống lâu năm, cao 20 – 50 cm, có thân mọc đứng, hình trụ hoặc có góc ở đầu. Lá ở gốc thân, hình dải phẳng hẹp, có rãnh, dài 15 – 30 cm, rộng 1,5 – 7 mm. Hoa trắng mọc thành tán ở đầu một cán hoa dài 20 – 30 cm hay hơn. Tán gồm tới 20 - 40 hoa có mo bao bọc, 3 - 4 lần ngắn hơn tán hoa; bao hoa màu trắng, gồm nhiều phiến thuôn mũi mác. Quả nang, hình trái xoan ngược chia ra 3 mảnh; 6 hạt nhỏ, màu đen. Ra hoa tháng 7 - 8, có quả tháng 9 – 10 [6, 7].

Thành phần hóa học

Đến nay, các nghiên cứu về thành phần hóa học của loài Allium tuberosum (A. tuberosum) còn nhiều hạn chế, các kết quả chủ yếu do các nhà khoa học Trung Quốc công bố. Các nhóm chất chính được tìm thấy trong loài hẹ (A. tuberosum) này gồm: saponin steroid, flavonoid, pyrazine và phenolic glycoside, trong đó saponin và flavonoid là hai nhóm hợp chất được nghiên cứu nhiều nhất. Một số hợp chất tiêu biểu được phân lập từ A. tuberosum được trình bày ở Hình 1.2, bao gồm: quercetin-3-O-(6-trans-feruloyl)-β-D-glucopyranosyl-(1 -> 2)-β-D-glucopyranoside-7-O-β-D-glucopyranoside (1) [8]; kaempferol-3-O-(6-trans-feruloyl)-β-D-glucopyranosyl-(1->2)-β-D-glucopyranoside-7-O-β-D-glucopyranoside (2) [8]; 3-phenylpropyl-β-D-glucopyranoside (3) [8]; (25S)-5β-spirostan-2β, 3β, 5-triol 3-O-β-D-glucopyranoside (4) [9].

Hình 1.2. Một số hợp chất tiêu biểu được phân lập từ Allium tuberosum: flavonoid glycoside (1–2), phenolic glycoside (3) và steroidal saponin (4)

Tác dụng sinh học

Tác dụng trong Y học cổ truyền

Hẹ là một vị thuốc cổ truyền của dân gian. Lá và củ (dò) thường dùng chữa bệnh ho của trẻ em (lá hẹ hấp với đường hay đường phèn trong nồi cơm hoặc đun cách thuỷ). Còn dùng chữa các bệnh kiết lỵ ra máu, làm thuốc bổ giúp sự tiêu hoá, tốt cho gan, thận (chữa bệnh di tinh, đi tiểu nhiều lần). Liều dùng hằng ngày: Từ 20 đến 30 g. Nước sắc hẹ còn dùng để chữa bệnh giun kim (sắc uống). Hạt hẹ được dùng chữa di mộng tinh, tiểu tiện ra huyết, đau mỏi đầu gối, đau lưng, khí hư. Liều dùng 6-12 g/ngày. Theo tài liệu cổ, hẹ có vị cay, ngọt, tính ôn, vào 2 kinh can và thận. Có tác dụng bổ can thận, làm ấm lưng gối, dùng làm thuốc chữa tiểu tiện nhiều lần, đái són, mộng tinh, bạch trọc. Những người âm hư hoả vượng không dùng được [10].

Tác dụng kháng vi sinh vật

Năm 2013, Dragana Kocevski cùng cộng sự đã nghiên cứu tác dụng kháng nấm của loài A. tuberosum đối với các chủng Aspergillus flaflavus và Aspergillus oryzae. Nồng độ ức chế tối thiểu của tinh dầu từ loài A. tuberosum đối với các chủng A. flavus và A. oryzae là 250 ppm. Tinh dầu này thể hiện tác dụng ức chế sự phát triển của khuẩn lạc các chủng A. flaflavus và A. oryzae ở các nồng độ 100 ppm, 175 ppm và 250 ppm [11].

Năm 2022, Nguyễn Khánh Thùy Linh và cộng sự đã đánh giá hoạt tính kháng vi sinh vật của cao chiết và tinh dầu của phần trên mặt đất cây hẹ. Cao hexan có khả năng kháng vi khuẩn L. fermentum. Cao dichloromethan có khả năng kháng vi khuẩn B. subtilis, L fermentum. Cao ethylacetat có khả năng kháng vi khuẩn B. subtilis. Tinh dầu hẹ có khả năng kháng vi khuẩn B. subtilis, L. fermentum và nấm C. albican. Như vậy, tinh dầu và các cao chiết từ hẹ có khả năng kháng các chủng vi sinh vật [12].

Năm 2024, nhóm nghiên cứu của Hồ Thị Dung đã đánh giá tác dụng kháng khuẩn của các cao chiết loài A. tuberosum. Kết quả cho thấy, các cao H2O, cao ethanol 70% và cao ethanol 96% đều có hoạt tính kháng 4 dòng vi khuẩn E. coli, B. cereus, S. aureus và P. aeruginosa ở nồng độ 100 mg/ml [13].

Năm 2025, Nguyễn Thái An và cộng sự đã đánh giá tác dụng kháng vi sinh vật của tinh dầu lá hẹ (Allium tuberosum). Tinh dầu có tác dụng kháng khuẩn tốt trên Staphylococcus epidermidis, Enterococcus faecalis và Salmonella enterica (MIC=128 μg/ml), tác dụng kháng khuẩn/kháng nấm yếu hơn trên Escherichia coli và Candida albicans (MIC=256 μg/ml). Tinh dầu hẹ cho thấy tiềm năng ứng dụng trong điều trị nhiễm khuẩn [14].

Tác dụng chống oxy hóa

Nhóm nghiên cứu của Jing Hong và cộng sự (2014) đã nghiên cứu tác dụng chống oxy hóa của peptide tinh sạch từ loài A. tuberosum. Peptide này có thể trung hòa các gốc tự do một cách hiệu quả và thể hiện khả năng khử trung bình. Kết quả cho thấy, peptide có khả năng trung hòa gốc tự do DPPH, ABTS+ và O2- với giá trị IC50 tương ứng là 0,61; 0,04 và 0,70 mg/mL. Thêm vào đó, peptide cũng bảo vệ tế bào LO2 khỏi tổn thương do hydrogen peroxide gây ra ở nồng độ 10 μg/mL [15].

Tác dụng hạ lipid máu và khả năng chữa bệnh xơ vữa động mạch

Theo kết quả nghiên cứu của Raghuveer Choudhary (2008) về tác dụng hạ lipid máu và khả năng chữa bệnh xơ vữa động mạch, loài A. tuberosum cho thấy hoạt tính hạ lipid máu đáng kể vì chúng làm giảm cholesterol huyết thanh, triglyceride, LDL-C và chỉ số gây xơ vữa động mạch ở chuột lang tăng lipid máu (p <0,01). Không quan sát thấy sự gia tăng đáng kể nồng độ HDL-C. Khi so sánh giữa 2 loài A. sativum và A. tuberosum, người ta thấy rằng A. tuberosum làm giảm đáng kể cholesterol và triglyceride huyết thanh, LDL-C và chỉ số gây xơ vữa động mạch (p < 0,05). Loài A. tuberosum được phát hiện có hoạt tính mạnh hơn (p < 0,05) so với A. sativum trong việc giảm mức độ nghiêm trọng của xơ vữa động mạch. Kết quả cho thấy A. tuberosum có tiềm năng hạ lipid máu và giảm mức độ tổn thương xơ vữa trong mô hình động vật. Tuy nhiên, cần thêm nghiên cứu để xác định hiệu quả và độ an toàn trên người [16].

Tác dụng gây độc tế bào ung thư

Năm 2025, Nguyễn Thái An và cộng sự đã đánh giá tác dụng gây độc tế bào ung thư của tinh dầu lá hẹ (A. tuberosum). Tinh dầu thể hiện tác dụng ức chế sự phát triển tế bào ở 3 dòng ung thư ở người: Ung thư vú (MCF-7), ung thư phổi (SK-LU-1) và ung thư gan (HepG2) với giá trị IC50 dao động từ 33,8-50,16 μg/mL [14].

Tác dụng chống đái tháo đường và bảo vệ gan

Nghiên cứu của nhóm tác giả Xingli Tang và cộng sự (2017) về tác dụng chống đái tháo đường và bảo vệ gan của phân đoạn cồn butyl từ chiết xuất methanol của A. tuberosum (AT). Kết quả cho thấy, AT làm giảm đáng kể nồng độ FBG, TG huyết thanh, TC, MDA và làm tăng đáng kể hoạt động của HDL, SOD, GSH và CAT ở chuột bị tiểu đường. Ngoài ra, AT ức chế đáng kể nồng độ MDA, IL-1b, IL-6 và TNF-α và ngăn ngừa sự suy giảm hoạt động của các enzyme chống oxy hóa GSH, SOD và CAT trong tổn thương gan do CCl4 gây ra. Hơn nữa, AT làm giảm đáng kể nồng độ AST, ALT và ALP ở nhóm chuột được điều trị bằng CCl4. Tóm lại, tác dụng chống đái tháo đường và bảo vệ gan của AT có thể liên quan đến tính chống oxy hóa và khả năng ức chế các chất trung gian gây viêm [17].

Tiềm năng ứng dụng

Từ các nghiên cứu khoa học nêu trên cho thấy sự hiện diện của các nhóm hoạt chất như saponin steroid, flavonoid và phenolic glycoside chính là nền tảng hóa học lý giải cho phổ tác dụng sinh học rộng của loài cây này — từ kháng khuẩn, kháng nấm, chống oxy hóa, hạ lipid máu, chống xơ vữa động mạch, đến gây độc chọn lọc trên tế bào ung thư, chống đái tháo đường và bảo vệ gan. Chính sự đa dạng và cộng hưởng giữa các cơ chế tác dụng này mở ra hướng phát triển Hẹ theo hai trục song song: vừa là nguyên liệu tiềm năng cho các chế phẩm dược lý nhắm đến những vấn đề sức khỏe mang tính thời sự như nhiễm khuẩn kháng thuốc, rối loạn chuyển hóa lipid, đái tháo đường hay tổn thương gan; vừa là thành phần tự nhiên, an toàn để đưa vào thực phẩm chức năng, sản phẩm bảo vệ sức khỏe và mỹ phẩm chăm sóc da nhờ khả năng chống oxy hóa và kháng vi sinh vật. Việc kế thừa tri thức bản địa trong y học cổ truyền, kết hợp với bằng chứng khoa học hiện đại, không chỉ củng cố giá trị dược lý của Hẹ mà còn cho thấy đây là một hướng đi bền vững, gắn kết giữa bảo tồn nguồn dược liệu bản địa và phát triển các sản phẩm chăm sóc sức khỏe có giá trị cao.

Kết luận

Các nghiên cứu hiện có cho thấy Allium tuberosum chứa nhiều nhóm hợp chất có hoạt tính sinh học, bao gồm flavonoid, saponin steroid, phenolic glycoside, pyrazine và peptide. Các dịch chiết, phân đoạn và tinh dầu của cây đã được ghi nhận có hoạt tính chống oxy hóa, kháng vi sinh vật, điều hòa lipid, hỗ trợ kiểm soát đường huyết, bảo vệ gan và gây độc tế bào trên một số mô hình thực nghiệm. Tuy nhiên, phần lớn bằng chứng hiện nay vẫn ở mức in vitro hoặc tiền lâm sàng. Do đó, cần tiếp tục nghiên cứu về cơ chế tác dụng, độc tính, tiêu chuẩn hóa nguyên liệu và hiệu quả trên người trước khi phát triển các ứng dụng dược phẩm hoặc sản phẩm chăm sóc sức khỏe.

Tài liệu tham khảo

1.  Linnaeus, C., (1825), " Systema Vegetabilium vol. ii (16th ed.). Göttingen: Sumtibus Librariae Dieterichianae.", Sprengel Curt Polycarp Joachim. p. 38.

2.  Hilty, J., (2015), "Garlic chives." Illinois Wildflowers.

3.  Kartesz, J.T., (2014), "Allium tuberosum." Biota of North America Program (BONAP).

4.  Trung tâm dữ liệu thực vật Việt Nam, "https://www.botanyvn.com/cnt.asp?param=edir&v=Allium%20tuberosum&list=species."

5.  India, F.o., "Allium tuberosum (Cultivated)."

6.  Xu, J.K., Rudolf V, "Allium tuberosum." Flora of China. 24: p. 179.

7.  Li, Q.-Q.Z., S.-D.; He, X.-J.; Yu, Y.; Zhang, (2010), "Phylogeny and biogeography of Allium (Amaryllidaceae: Allieae) based on nuclear ribosomal internal transcribed spacer and chloroplast rps16 sequences, focusing on the inclusion of species endemic to China." Annals of Botany. 106(5): p. 709–733.

8.  Gao, Q., et al., (2018), "Isolation and identification of new chemical constituents from Chinese chive (Allium tuberosum) and toxicological evaluation of raw and cooked Chinese chive." Food and Chemical Toxicology. 112: p. 400–411.

9.  Sang, S., et al., (2003), "New steroid saponins from the seeds of Allium tuberosum L." Food Chemistry. 83(4): p. 499–506.

10. Đỗ Tất Lợi, (2004), "Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam."

11. Kocevski, D., et al., (2013), "Antifungal effect of Allium tuberosum, Cinnamomum cassia, and Pogostemon cablin essential oils and their components against population of Aspergillus species." Journal of Food Science. 78(5): p. M731–M737.

12. Linh, N.K.T. and P.T.H.J.T.J.S.T. Thu, (2022), "Chemical composition and antimicrobial activities of Alliim tuberosum." TNU Journal of Science and Technology. 27(10): p. 56–65.

13. Dung, H.T., et al., (2024), "Nghiên cứu đặc điểm thực vật và tác dụng kháng khuẩn của cây hẹ (Allium tuberosum Roxb.)." Tạp chí Y học Việt Nam. 536(1), p. 104-107.

14. Tùng, N.T., et al., (2025), "Thành phần hoá học và một số tác dụng sinh học của tinh dầu lá hẹ (Allium tuberosum)." Tạp chí Y Dược học Quân sự. 50(6): p. 19–28.

15. Hong, J., et al., (2014), "Purification and characterization of an antioxidant peptide (GSQ) from Chinese leek (Allium tuberosum Rottler) seeds." Journal of Functional Foods. 10: p. 144–153.

16. Choudhary, R.J.P.J.o.P., (2008), "Benificial effect of Allium sativum and Allium tuberosum on experimental hyperlipidemia and atherosclerosis." Pakistan Journal of Physiology. 4(2): p. 7–10.

17. Tang, X., et al., (2017), "Allium tuberosum: Antidiabetic and hepatoprotective activities." Food Res Int. 102: p. 681–689.