
Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Trần Trung Tính chỉ đạo tại buổi làm việc
Nghiên cứu hướng vào những lĩnh vực ưu tiên
Trong 9 tháng đầu năm, VKIST triển khai 38 nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Các nhiệm vụ mới tập trung vào những hướng có tiềm năng ứng dụng như năng lượng sạch hydrogen, vật liệu tiên tiến gắn với kinh tế tuần hoàn, công nghệ sinh học - dược phẩm và trí tuệ nhân tạo.
Theo PGS.TS Vũ Đức Lợi, Viện trưởng VKIST, trong năm 2026, Viện được phê duyệt một nhiệm vụ cấp Nghị định thư với Hàn Quốc và 01 nhiệm vụ thuộc Chương trình trọng điểm cấp Nhà nước KC4.0; đồng thời hoàn thành hồ sơ, báo cáo thẩm định 01 nhiệm vụ thuộc Chương trình trọng điểm cấp Nhà nước KC12.

PGS.TS. Vũ Đức Lợi, Viện trưởng VKIST báo cáo tại buổi làm việc
Các kết quả nghiên cứu cũng được chuyển thành sản phẩm khoa học và sở hữu trí tuệ. VKIST công bố 10 bài báo quốc tế thuộc nhóm Q1/Q2 và 03 bài trên các tạp chí quốc gia uy tín; được cấp 04 bằng độc quyền sáng chế/giải pháp hữu ích và nộp 13 đơn đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ, trong đó toàn bộ các đơn đều đã được chấp nhận đơn hợp lệ/ Đã được chuyển công bố (được coi là hợp lệ).
Một số công nghệ đang được hoàn thiện để tiến tới ứng dụng gồm vật liệu cathode LFP cho pin lithium-ion, tinh chế silica từ thạch anh phục vụ ngành bán dẫn, công nghệ sinh học - dược phẩm, xử lý nước, robot vận chuyển trong nhà máy và nội soi ống mềm ứng dụng trí tuệ nhân tạo phục vụ y tế.
Những hướng nghiên cứu này cho thấy VKIST đang tìm cách đưa hoạt động nghiên cứu gần hơn với nhu cầu sản xuất và những lĩnh vực công nghệ được xác định có tiềm năng phát triển trong tương lai.
Tăng cường liên kết đào tạo, phát triển đội ngũ nghiên cứu
Để nghiên cứu đi đến thị trường, doanh nghiệp cần được tham gia sớm hơn vào quá trình phát triển công nghệ, thay vì chỉ xuất hiện ở khâu tiếp nhận kết quả. Đây là hướng VKIST đang thúc đẩy trong hoạt động nghiên cứu và chuyển giao
Trong 9 tháng, Viện tiếp tục triển khai 05 hợp đồng chuyển giao công nghệ đã ký với doanh nghiệp. Các công nghệ được chuyển giao nhằm phục vụ sản xuất nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, phát triển sản phẩm chăm sóc sức khỏe, sản xuất dầu cám gạo giàu γ-oryzanol và sản phẩm hỗ trợ điều trị loét dạ dày - tá tràng.
Đáng chú ý là hợp đồng hợp tác phát triển công nghệ có sự tham gia của doanh nghiệp ngay từ giai đoạn nghiên cứu, với mức đối ứng 2,55 tỷ đồng, tương đương 51% tổng kinh phí của nhiệm vụ.
Mô hình “Mỗi doanh nghiệp - Một nhà khoa học” đang được VKIST mở rộng theo hướng này. Khi tiếp nhận nhu cầu công nghệ, Viện cử nhà khoa học phối hợp với bộ phận R&D của doanh nghiệp khảo sát, xác định vấn đề, xây dựng và triển khai nghiên cứu. Doanh nghiệp cùng tham gia trong quá trình nghiên cứu và đánh giá kết quả, qua đó rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến sản xuất, tăng khả năng ứng dụng và thương mại hóa công nghệ.
Song song với hợp tác trong nước, VKIST đã ký 9 hợp đồng phát triển công nghệ với các đối tác Hàn Quốc, trong đó có Viện Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc (KIST) và Viện Nghiên cứu Điện tử và Viễn thông Hàn Quốc (ETRI); triển khai 17/20 hoạt động thuộc Dự án Bắc cầu VKIST. Dự án VKIST giai đoạn 2 cũng đã được hai bên thống nhất, với cam kết viện trợ không hoàn lại 30 triệu USD từ phía Hàn Quốc trong giai đoạn 2026–2033.
Theo Thứ trưởng Trần Trung Tính, hợp tác với doanh nghiệp cần được mở rộng từ chuyển giao sang cùng nghiên cứu, phát triển, cải tiến và hoàn thiện công nghệ. Đây là cách để kết quả nghiên cứu có thêm cơ hội đi nhanh hơn từ phòng thí nghiệm đến sản xuất.
Cùng với doanh nghiệp, liên kết với các trường đại học được xác định là một nguồn lực quan trọng để phát triển năng lực nghiên cứu. Thứ trưởng nhấn mạnh yêu cầu tăng cường liên kết giữa VKIST và các trường đại học, nhất là trong đào tạo tiến sĩ, nghiên cứu sinh và phát triển các nhóm nghiên cứu.
Theo Thứ trưởng, nghiên cứu sinh là một nguồn lực quan trọng tạo ra các ý tưởng khoa học mới, đồng thời góp phần hình thành lực lượng nghiên cứu kế cận cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược.
Theo định hướng được trao đổi tại buổi làm việc, VKIST có thể phối hợp với các trường đại học trong đào tạo, tham gia hướng dẫn và đào tạo nghiên cứu sinh thực hiện đề tài nghiên cứu thực nghiệm tại Viện. Viện cần phải phát huy thế mạnh về cơ sở vật chất, điều kiện phòng thí nghiệm, chuyên gia, kinh phí thực hiện đề tài, môi trường nghiên cứu chuyên nghiệp trong hợp tác với các trường đại học đảm nhiệm chức năng đào tạo sau đại học. Sự hợp tác này sẽ giúp VKIST vừa có đóng góp cho đào tạo, vừa tận dụng được nguồn nhân lực nghiên cứu để mở rộng mạng lưới nghiên cứu, tiếp thu thêm nguồn ý tưởng mới, hình thành được các nhóm nghiên cứu có khả năng theo đuổi những hướng công nghệ dài hạn.
Tập trung nguồn lực, chủ động xác định bài toán
Toàn cảnh buổi làm việc
Phát biểu tại buổi làm việc, Thứ trưởng Trần Trung Tính ghi nhận những kết quả VKIST đạt được, đồng thời đề nghị Viện xác định rõ chiến lược phát triển trong thời gian tới, cụ thể là đến 2035 và định hướng đến 2040, cần tập trung nguồn lực vào một số lĩnh vực trọng tâm, tránh dàn trải để hình thành năng lực nghiên cứu đủ sâu, đủ mới để dẫn dắt sự phát triển về KH&CN.
Giai đoạn 2027-2035, VKIST dự kiến ưu tiên bán dẫn, pin thứ cấp, trí tuệ nhân tạo, y sinh và vật liệu tiên tiến. Đây là những lĩnh vực vừa có tiềm năng thị trường, vừa phù hợp với năng lực nghiên cứu và lợi thế hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc.
Thứ trưởng cũng gợi mở để VKIST tham gia nghiên cứu các lĩnh vực công nghệ chiến lược như vi mạch bán dẫn, điện hạt nhân, và đường sắt tốc độ cao, là những lĩnh vực công nghệ chủ chốt được Chính phủ đầu tư lớn trong thời gian tới.
Điểm chung của các lĩnh vực này là Việt Nam mới tham gia nên đòi hỏi thời gian nghiên cứu đủ lâu, nguồn lực tập trung lớn và đội ngũ chuyên gia đủ mạnh. Vì vậy, VKIST cần lựa chọn một vài hướng có lợi thế để đầu tư chiều sâu, hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh để từng bước làm chủ công nghệ.
Định hướng này cũng đặt ra yêu cầu VKIST chủ động hơn trong việc nhận diện vấn đề và xác định bài toán công nghệ. Thay vì chỉ tiếp nhận nhu cầu từ doanh nghiệp hoặc các đơn vị rồi xây dựng nhiệm vụ nghiên cứu, Viện được kỳ vọng chủ động tìm kiếm những vấn đề lớn từ thực tiễn, phân tích nhu cầu và xác định công nghệ cần giải quyết. Đó là bước chuyển sang chủ động xác định đúng bài toán công nghệ thực tiễn, đủ lớn để VKIST chủ động nghiên cứu, giải quyết những bài toán công nghệ từ nhu cầu của doanh nghiệp, thị trường và thực tiễn phát triển của đất nước.
Vai trò cầu nối Việt Nam - Hàn Quốc được xem là lợi thế của Viện trong quá trình này và cần phải phát huy. VKIST có thể kết nối các nhà khoa học, trường đại học, doanh nghiệp và đối tác quốc tế, đồng thời tận dụng tiềm lực về KH&CN, tri thức, kinh nghiệm và nguồn lực từ hệ sinh thái các doanh nghiệp KH&CN Hàn Quốc để cùng giải quyết những bài toán công nghệ đòi hỏi sự phối hợp và nguồn lực lớn.
Thứ trưởng cũng đề nghị VKIST tiếp tục phát huy vai trò tham mưu, tư vấn chính sách về khoa học và công nghệ, xây dựng đội ngũ có năng lực và các nhóm nghiên cứu mạnh để có thể dẫn dắt nghiên cứu ứng dụng trong tương lai về một số lĩnh vực được lựa chọn. VKIST sẽ từng bước nâng cao năng lực nhận diện vấn đề, xác định hướng nghiên cứu, làm chủ công nghệ và kết nối các nguồn lực để ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn tại các doanh nghiệp.



Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Trần Trung Tính tham quan phòng thí nghiệm tại VKIST.






